top of page
logo-LIVING LAB.png

Khảo sát thực địa cho chiến dịch giám sát Living Lab rừng ngập mặn.

21 tháng 1, 2026

Tỉnh Cà Mau và tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam

Các nhà nghiên cứu từ ICOE và Đại học Thủy Lợi đã tiến hành khảo sát sơ bộ đầu tiên cho dự án Phòng thí nghiệm sống rừng ngập mặn nhằm xác định các địa điểm giám sát phù hợp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Chiến dịch thực địa đã đánh giá hiện trạng rừng ngập mặn, sự thay đổi đường bờ biển, khả năng tiếp cận và các yêu cầu về hậu cần để lắp đặt các thiết bị giám sát dài hạn.

Đợt khảo sát tiền trạm đầu tiên của dự án Mangroves Living Lab được thực hiện từ ngày 21 đến 23 tháng 01 năm 2026 bởi các nhà khoa học đến từ Viện Kỹ thuật Biển (ICOE) và Trường Đại học Thủy lợi. Chuyến khảo sát được triển khai tại một số khu vực ven biển thuộc Cà Mau và Sóc Trăng nhằm lựa chọn các vị trí phù hợp cho chương trình quan trắc thực địa trong giai đoạn tiếp theo.

Mục tiêu chính của đợt tiền trạm là đánh giá các vị trí quan trắc tiềm năng, khảo sát hiện trạng đường bờ và rừng ngập mặn, kiểm tra điều kiện tiếp cận hiện trường, đồng thời đánh giá khả năng lắp đặt các thiết bị quan trắc dài hạn. Trong quá trình khảo sát, nhóm nghiên cứu đã tiến hành quan sát hiện trường, chụp ảnh từng vị trí, ghi chép nhật ký khảo sát, thu thập tọa độ GPS và đánh giá các điều kiện hậu cần cũng như an toàn phục vụ cho đợt đo chính thức.

Đợt khảo sát đã xem xét bảy điểm quan trắc tiềm năng, đại diện cho nhiều điều kiện môi trường ven biển và hiện trạng rừng ngập mặn khác nhau.



Trạm cố định Hòa Bình (FS_HB_H_S0)


Nhóm khảo sát đã kiểm tra vị trí trạm quan trắc mực nước tại Hòa Bình. Trước đây, khu vực này từng được sử dụng để quan trắc mực nước trong thời gian dài; tuy nhiên, cầu dẫn ra trạm hiện đã được tháo dỡ nên không còn khả năng tiếp cận để triển khai thiết bị. Mặc dù vậy, đây vẫn là vị trí có giá trị đối với các chương trình quan trắc khí tượng và thủy triều trong tương lai nếu điều kiện tiếp cận được khôi phục.


Điện gió Bạc Liêu (XS_BL_H_S1)


Khu vực Điện gió Bạc Liêu là một điển hình của hệ sinh thái rừng ngập mặn phát triển phía sau tuyến đê trụ rỗng. Quan sát thực địa cho thấy rừng ngập mặn mới trồng, chủ yếu là cây mắm (Avicennia spp.), đang phát triển tốt phía trong tuyến đê. Đồng thời, địa phương cũng đang tiếp tục triển khai các hoạt động phục hồi rừng trên khu vực bãi bồi mới hình thành.

Phân tích ảnh vệ tinh giai đoạn 2019–2025 cho thấy trước khi xây dựng tuyến đê trụ rỗng, dải rừng ngập mặn phía ngoài chỉ rộng khoảng 30–70 m. Sau khi công trình hoàn thành vào năm 2020 và kết hợp với các chương trình trồng rừng, diện tích rừng phía trong đê đã được mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, dải rừng ngập mặn phía ngoài vẫn chưa ghi nhận sự gia tăng đáng kể về bề rộng.


Lai Hòa (XS_LH_D_S0)


Khu vực Lai Hòa đại diện cho vùng rừng ngập mặn chịu ảnh hưởng của xói lở bờ biển kéo dài. Kết quả phân tích diễn biến đường bờ giai đoạn 2006–2024 cho thấy khu vực này xảy ra xói lở mạnh trong giai đoạn 2006–2014, với tốc độ xấp xỉ 20 m mỗi năm.

Nhờ dự án phục hồi rừng triển khai vào khoảng năm 2019, dải rừng ngập mặn đã được phục hồi với chiều rộng khoảng 100–150 m. Tuy nhiên, từ năm 2019 đến 2024, hiện tượng xói lở vẫn tiếp tục diễn ra với tốc độ tương tự, cho thấy khu vực này vẫn còn nhiều nguy cơ mất ổn định.


Vĩnh Châu 1 (XS_VC1_D_S0)


Vĩnh Châu 1 được lựa chọn là vị trí đại diện cho rừng ngập mặn suy thoái.

Khảo sát hiện trường ghi nhận nhiều dấu hiệu rõ rệt của quá trình xói lở bờ biển. Nhóm nghiên cứu quan sát thấy địa hình hạ thấp đột ngột ngay phía trước mép rừng, phản ánh quá trình lùi bờ đang diễn ra. Phân tích ảnh vệ tinh cũng cho thấy rừng ngập mặn từng bị phân mảnh và một phần diện tích đã được chuyển đổi sang nuôi tôm trước khi các chương trình phục hồi được triển khai.

Mặc dù việc trồng rừng sau năm 2014 đã cải thiện đáng kể độ che phủ thực vật, khu vực này vẫn tiếp tục ghi nhận hiện tượng xói lở nhẹ trong những năm gần đây.


Vĩnh Châu 2 và Vĩnh Châu 3 (XS_VC2_H_S0 & XS_VC3_H_S0)


Hai vị trí Vĩnh Châu 2 và Vĩnh Châu 3 đại diện cho các khu vực rừng ngập mặn khỏe mạnh, với đường bờ tương đối ổn định.

Kết quả phân tích ảnh vệ tinh cho thấy các hoạt động trồng và phục hồi rừng trong giai đoạn 2006–2019 đã giúp mở rộng đáng kể diện tích rừng ngập mặn. Khác với các khu vực suy thoái, đường bờ tại đây hầu như không thay đổi kể từ năm 2019, phản ánh điều kiện môi trường ổn định.

Quan sát thực địa cũng xác nhận rừng ngập mặn phát triển dày, khỏe mạnh và rất phù hợp để triển khai các chương trình quan trắc dài hạn.


Trạm cố định Đại Ngãi (FS_DN)


Đoàn khảo sát cũng đã làm việc tại Trạm Thủy văn Đại Ngãi, nơi hiện đã lắp đặt thiết bị quan trắc nồng độ bùn cát lơ lửng (SSC). Dữ liệu thu được từ trạm sẽ đóng vai trò là nguồn tham chiếu quan trọng phục vụ hiệu chỉnh và kiểm chứng kết quả của các chương trình quan trắc thực địa sau này.


Lựa chọn các điểm quan trắc đại diện

Dựa trên kết quả khảo sát thực địa, điều kiện tiếp cận và phân tích diễn biến đường bờ qua nhiều năm, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn hai mặt cắt đại diện để triển khai chương trình quan trắc chính:

  • XS_VC1_D_S0: đại diện cho khu vực rừng ngập mặn suy thoái chịu ảnh hưởng của xói lở bờ biển.

  • XS_VC3_H_S0: đại diện cho khu vực rừng ngập mặn khỏe mạnh và ổn định.

Hai vị trí này sẽ là cơ sở để so sánh các quá trình thủy động lực, vận chuyển bùn cát và diễn biến địa hình trong các điều kiện rừng ngập mặn khác nhau.


Đề xuất phương án quan trắc

Nhóm khảo sát đã đề xuất hệ thống quan trắc tổng hợp cho đợt đo chính thức.

Hệ thống ngoài khơi sẽ sử dụng Wave Buoy đặt tại các độ sâu khoảng 2 m và 5 m, kết hợp với thiết bị AWAC để đo sóng và dòng chảy dọc bờ.

Khu vực gần bờ sẽ được bố trí các cảm biến áp lực sóng, thiết bị đo mực nước, khảo sát địa hình bằng RTK, cùng với việc thu thập mẫu bùn cát dọc theo mặt cắt dài khoảng 2 km và trong khu vực rừng ngập mặn nhằm nghiên cứu quá trình vận chuyển và lắng đọng trầm tích.

Theo kế hoạch, đợt khảo sát chính thức sẽ bắt đầu bằng hai ngày lắp đặt và kiểm tra thiết bị, sau đó tiến hành quan trắc liên tục trong khoảng hai tuần để thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu.

bottom of page