
KHAI THÁC NƯỚC NGẦM
Khai thác nước ngầm và sụt lún đất là hai yếu tố không thể tách rời – tình trạng sụt lún tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phần lớn là hệ quả của việc khai thác nước ngầm chứ không đơn thuần do các yếu tố địa chất tự nhiên. Đồng bằng này nằm trên một trình tự các lớp trầm tích kỷ Đệ Tứ, bao gồm các lớp cát, bùn kết và sét xen kẽ được bồi đắp trong khoảng 10.000 đến 20.000 năm qua. Các lớp tầng ngậm nước này có tính nén cao. Khi nước trong lỗ rỗng bị rút ra, ứng suất hữu hiệu lên khung trầm tích tăng lên, khiến các hạt trầm tích bị nén chặt lại – quá trình này diễn ra vĩnh viễn đối với các lớp sét. Hệ quả là bề mặt địa hình phía trên bị hạ thấp.
Lượng nước ngầm khai thác tại ĐBSCL đã tăng từ khoảng 0,5 triệu m³/ngày vào năm 1995 lên mức ước tính 2,5–3,0 triệu m³/ngày hiện nay. Động lực chính thúc đẩy sự gia tăng này bao gồm nhu cầu sinh hoạt tại nông thôn (do mạng lưới nước máy mới chỉ tiếp cận được khoảng 60% hộ gia đình), tưới tiêu lúa gạo, sản xuất công nghiệp và nước cho các ao nuôi trồng thủy sản. Đặc điểm phân bố không gian của việc khai thác nước ngầm tương đồng với mô hình sụt lún: các khu vực bơm hút mạnh nhất tập trung tại Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang và các vùng ven đô của TP.HCM và Cần Thơ.
Điểm mấu chốt của quá trình nén chặt tầng sét là nó gần như không thể đảo ngược trong khung thời gian đời sống con người. Không giống như tầng ngậm nước bằng cát — vốn có thể phục hồi một phần khi áp suất được khôi phục — lớp sét một khi đã bị rút nước và nén chặt sẽ không thể giãn nở trở lại ngay cả khi tầng nước ngầm được tái nạp. Phần bề mặt đất bị mất đi do nén ép bởi bơm hút nước ngầm là sự tổn thất vĩnh viễn, bất kể các nỗ lực cắt giảm khai thác trong tương lai. Tại thành phố Cà Mau, nơi hoạt động khai thác cường độ cao kết hợp với cột trầm tích có tính nén dày nhất, mặt đất ước tính đã lún xuống 0,5–0,8 m kể từ năm 1990. Hệ quả là nhiều khu vực rộng lớn của đô thị này hiện nay nằm dưới mực nước biển trung bình khi triều cường.
Một hệ quả thứ cấp của việc khai thác quá mức là tình trạng xâm nhập mặn vào chính các tầng ngậm nước. Khi nước ngọt trong các tầng ngậm nước ven biển bị rút xuống, độ dốc thủy lực bị đảo ngược khiến nước biển xâm nhập sâu vào nội địa.
-
Tầng ngậm nước 1 (qh) tại phần lớn các tỉnh ven biển hiện nay đã bị mặn hóa hoàn toàn và vĩnh viễn (xét trên mọi kịch bản quy hoạch).
-
Thực trạng này buộc việc khai thác phải tiến sâu hơn vào tầng ngậm nước 2 (qp3) và tầng ngậm nước 3, từ đó đẩy nhanh tốc độ nén chặt ở các độ sâu lớn hơn.
