
VĨNH CHÂU – SÓC TRĂNG
GIỚI THIỆU
Vĩnh Châu, một vùng ven biển thuộc tỉnh Sóc Trăng, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống phòng thủ ven biển và sinh kế của người dân địa phương. Khu vực này có đặc điểm là sự kết hợp giữa đê biển, vùng nuôi trồng thủy sản và các đai rừng ngập mặn đang trong quá trình phục hồi, góp phần bảo vệ đất nông nghiệp và giảm thiểu tác động của sóng và gió.

Hình 1. Vĩnh Châu (Sóc Trăng)
Tuy nhiên, tương tự như nhiều vùng ven biển khác ở Đồng bằng sông Cửu Long, Vĩnh Châu đang đối mặt với những thách thức như xói lở cục bộ, biến động đường bờ và áp lực duy trì, phục hồi độ che phủ rừng ngập mặn trong bối cảnh chuyển đổi mục đích sử dụng đất và mở rộng nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, hệ thống đê điều và các hoạt động của con người cũng ảnh hưởng đến quá trình trao đổi thủy động lực học và vận chuyển trầm tích, từ đó tác động đến chức năng bảo vệ bờ biển lâu dài của hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Hoạt động thực địa tại Vĩnh Châu – Sóc Trăng được tiến hành vào thời điểm nhóm nghiên cứu nhận diện được một số hiện tượng ven biển đáng chú ý dọc theo bờ biển Vĩnh Châu. Đồng thời, có một nhu cầu rõ rệt về việc triển khai các hoạt động tại những khu vực rừng ngập mặn còn khỏe mạnh và ít chịu tác động bởi sự can thiệp của con người. Quan trọng hơn, dải bờ biển ngập mặn Vĩnh Châu có thể được coi là một "Phòng thí nghiệm sống" (Living Lab), nơi các ranh giới cố định có thể được thiết lập để hỗ trợ việc quan trắc và đo đạc dài hạn.
Dựa trên cơ sở đó, một loạt các đợt khảo sát thực địa đã được thực hiện vào đầu năm 2025 tại hai tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu. Các cuộc khảo sát này nhằm cập nhật và củng cố thông tin về hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn trong khu vực, đồng thời xác định các địa điểm đại diện để điều tra chi tiết.
Sau các đợt khảo sát sơ bộ, một chiến dịch đo đạc chuyên sâu đã được thực hiện từ ngày 10 đến ngày 21 tháng 6. Chiến dịch này bao gồm một bộ hoạt động thực địa toàn diện như: đo đạc điều kiện sóng ngoài khơi và gần bờ, thu thập dữ liệu dòng chảy ngoài khơi, lấy mẫu nồng độ trầm tích lơ lửng (SSC) và mẫu trầm tích đáy. Song song đó, các cuộc khảo sát đo đạc địa hình đáy biển và đánh giá cấu trúc rừng ngập mặn cũng được tiến hành để cung cấp cái nhìn tích hợp về hệ thống ven biển. Nhìn chung, các phép đo tập trung vào các thông số vật lý và sinh thái chính, bao gồm mực nước, động lực học sóng, đặc tính trầm tích và sinh khối rừng ngập mặn.


Hình 2. Vị trí các trạm quan trắc. Hình bên trái bao gồm các trạm đo sóng và dòng chảy gần bờ và ngoài khơi (WB và Flow). Hình bên phải bao gồm một trạm sóng gần bờ (WG01), Nồng độ trầm tích lơ lửng (SSC01 và SSC02), Trầm tích đáy (BSd-011 đến BSd-033), Ô tiêu chuẩn đo đạc kích thước rừng ngập mặn (OTC-01 đến OTC03) và các mặt cắt ngang bờ (các đường màu vàng). Cảng cá Vĩnh Châu nằm ở phía Bắc, nơi nhóm làm việc với các đối tác.
CÁC HOẠT ĐỘNG VÀ KẾT QUẢ
Các hoạt động thực địa bao gồm một loạt khảo sát được thực hiện tại tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu nhằm thu được thông tin cập nhật về hiện trạng rừng ngập mặn tại các khu vực nghiên cứu. Song song với đó, các phao đo sóng đã được triển khai và vận chuyển để theo dõi điều kiện sóng gần bờ, trong khi các thiết bị đo sóng được lắp đặt để ghi lại liên tục động lực học sóng và mực nước bên trong hệ sinh thái rừng ngập mặn. Ngoài ra, các mẫu trầm tích lơ lửng cũng được thu thập tại các cửa sông và cửa kênh để hỗ trợ phân tích các quá trình vận chuyển trầm tích.
Trong chiến dịch thực địa, nhóm nghiên cứu đã làm việc chặt chẽ với chính quyền và cộng đồng địa phương để hiểu rõ hơn về quan điểm và tầm nhìn dài hạn của họ đối với mô hình Living Lab được đề xuất. Các cuộc thảo luận này cũng giúp xác định những vị trí tiềm năng để thiết lập cơ sở hạ tầng quan trắc. Quan sát thực địa và tham vấn các bên liên quan đã làm nổi bật một số điều kiện ven biển then chốt, bao gồm các khu vực bị xói lở nghiêm trọng như Lai Hòa (Vĩnh Châu, Sóc Trăng), các khu vực đã xây dựng kè giảm sóng và rừng ngập mặn đang có dấu hiệu phục hồi như Nhà Mát (Bạc Liêu), cũng như các khu vực mới được bảo vệ với các công trình phòng thủ bờ biển và trồng mới rừng ngập mặn gần đây.
Dựa trên các điều kiện này, một tổ hợp thiết bị quan trắc gần bờ và ngoài khơi đã được triển khai. Phao đo sóng (WB2006, Obscape) và thiết bị đo dòng chảy bằng siêu âm Doppler (Sentinel-V20, Mỹ) đã được lắp đặt tại các vị trí ngoài khơi để đo động lực học sóng và dòng chảy. Điều kiện sóng gần bờ và mực nước được theo dõi bằng thiết bị ghi dữ liệu TWR2050R-RBR và Diver (Van Essen). Ngoài ra, một hệ thống đo mực nước bằng radar (PTM6003) đã được lắp đặt tại khu vực Điện gió Hòa Bình. Bổ sung cho các phép đo bằng thiết bị, các mẫu trầm tích lơ lửng và trầm tích đáy cũng được thu thập thủ công tại các vị trí đã chọn để hỗ trợ phân tích đặc tính trầm tích trong phòng thí nghiệm.
Dưới đây là ảnh chụp từ đợt thực địa lắp đặt thiết bị:

Hình 3. Họp với chính quyền địa phương

Hình 4. Thảo luận về rừng ngập mặn với người dân địa phương




Hình 5. Khảo sát các khu vực rừng ngập mặn mới được trồng lại


Hình 6. Phao đo sóng (trái) và thiết bị Sentinel-V20-ADCP (phải)

Hình 7. Dữ liệu sóng ghi nhận từ thiết bị Sentinel-V20 tại vị trí ngoài khơi, bao gồm cả độ sâu nước (biểu đồ dưới cùng).


Hình 8. Lắp đặt AEM213

Hình 9. Phân bố vận tốc dòng chảy tại độ cao z = 0,85 m (gần cảm biến của Sentinel-V20)



Hình 10. Radar đo mực nước PTM6003 (trái), Thiết bị ghi dữ liệu RBR (giữa) và các thiết bị Diver (phải)

Hình 11. Độ sâu nước từ các thiết bị Diver tại vị trí gần bờ (Xem Bảng 3.1 và Hình 3.1)
Mặc dù vậy, các mẫu trầm tích lơ lửng và trầm tích đáy vẫn được thu thập theo phương pháp truyền thống tại các vị trí đã chọn dựa trên tình hình thực tế. Trong Hình 12, mẫu trầm tích lơ lửng được thu thập tại hai vị trí: gần bờ và ngoài khơi. Mẫu được giữ trong chai nhựa (1 lít) và được lọc bằng giấy lọc chuyên dụng, ngày và giờ được ghi chép cẩn thận để phân tích sau này. Mẫu trầm tích đáy được thu thập thủ công tại các vị trí đã chọn dọc theo mặt cắt ngang bờ đã xác định (Hình 2). Các hình ảnh dưới đây trình bày các hoạt động thực tế tại hiện trường.


Hình 12. Mẫu trầm tích lơ lửng được thu thập và giữ trong chai nhựa tại trạm ngoài khơi



Hình 13. Thu thập mẫu trầm tích đáy
