top of page
logo-LIVING LAB.png
anh hùng đê chắn sóng

Đê chắn sóng

Đê chắn sóng phục vụ một mục đích hoàn toàn khác biệt so với đê biển. Trong khi đê biển là một cấu trúc trên đất liền nhằm ngăn nước, thì đê chắn sóng là một cấu trúc ngập một phần hoặc toàn bộ dưới nước, có chức năng triệt tiêu năng lượng sóng ngay trong cột nước trước khi sóng đánh vào bờ. Tại ĐBSCL, thuật ngữ này bao gồm ba loại hình cấu trúc chính được sử dụng để giải quyết các vấn đề ven biển khác nhau.

Đê chắn sóng xa bờ phục vụ phục hồi rừng ngập mặn, đây là ứng dụng đặc thù và quan trọng nhất đối với bối cảnh của ĐBSCL. Nghịch lý của việc phục hồi rừng ngập mặn trên một đường bờ đang bị xói mòn là: những loài cây có khả năng bảo vệ bờ tốt nhất lại không thể tồn tại đủ lâu để thiết lập bộ rễ — năng lượng sóng sẽ bứng gốc cây non trước khi chúng kịp phát triển. Một đê chắn sóng xa bờ được đặt cách bờ 50–150 m sẽ tạo ra một vùng năng lượng thấp, được che chắn ngay phía sau đê. Trong vùng nước tĩnh này, các hạt trầm tích mịn lắng đọng và tích tụ, hình thành nên bãi bùn. Các trụ mầm rừng ngập mặn có thể định cư trên bãi bùn này và bén rễ thành công. Trong vòng 3–5 năm, đai rừng ngập mặn sẽ đủ dày để tự triệt tiêu sóng, và khi đó cấu trúc đê chắn sóng đã hoàn thành vai trò như một "hạ tầng vườn ươm".

Kè mỏ vọt là các cấu trúc xây dựng vuông góc với đường bờ nhằm bẫy lượng trầm tích di chuyển dọc bờ, từ đó bồi đắp bãi biển ở phía đón bùn cát. Tại ĐBSCL, phương pháp này hiệu quả ở những nơi mà dòng bùn cát dọc bờ là tác nhân gây xói mòn chính — chủ yếu dọc theo bờ biển phía Đông của Tiền Giang và Bến Tre, nơi dòng chảy dọc bờ hướng Nam - Bắc vận chuyển trầm tích rời xa các mũi đất nhô ra.​ Hạn chế nghiêm trọng của kè mỏ vọt là gây ra tình trạng "đói" trầm tích ở phía hạ lưu dòng chảy: bằng cách giữ lại lượng trầm tích lẽ ra phải tiếp tục di chuyển dọc bờ, kè mỏ vọt tạo ra hoặc đẩy nhanh tốc độ xói mòn ngay tại khu vực phía sau nó. Một kè mỏ vọt đơn lẻ sẽ biến một vấn đề xói mòn phân tán thành một vấn đề xói mòn tập trung. Do đó, kè mỏ vọt chỉ khả thi khi được triển khai dưới dạng một hệ thống — đòi hỏi một dãy các cấu trúc được quy hoạch với khoảng cách tính toán kỹ lưỡng — và ngay cả khi đó, vẫn cần giám sát liên tục phản ứng của đường bờ phía hạ lưu.

bottom of page