.png)
CHIẾN LƯỢC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những vùng đồng bằng châu thổ chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) trên thế giới. Khu vực này đang đối mặt với hàng loạt thách thức nghiêm trọng bao gồm: nước biển dâng, xâm nhập mặn ngày càng sâu vào nội đồng, gia tăng tần suất và cường độ của hạn hán, lũ lụt bất thường, sạt lở bờ sông – bờ biển và sụt lún đất. Theo các kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu nước biển dâng 1 mét, khoảng 39% diện tích ĐBSCL có nguy cơ bị ngập, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của gần 18 triệu dân và đe dọa an ninh lương thực quốc gia. Nhận thức rõ mức độ cấp bách, Chính phủ Việt Nam đã ban hành và triển khai nhiều chính sách chiến lược nhằm thích ứng với BĐKH tại vùng ĐBSCL.
Các chính sách chủ yếu
Nghị quyết số 120/NQ-CP – Nền tảng chiến lược "thuận thiên"
Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH được xem là văn bản chiến lược mang tính bước ngoặt, đặt nền tảng cho toàn bộ hệ thống chính sách thích ứng tại khu vực. Nghị quyết xác lập quan điểm cốt lõi "thuận thiên" — tôn trọng quy luật tự nhiên, chuyển đổi mô hình phát triển từ tư duy chống chọi sang chủ động thích ứng. Các định hướng lớn bao gồm: chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái (vùng ngọt, vùng lợ, vùng mặn); phát triển hạ tầng thủy lợi đa mục tiêu; bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên; và phát triển kinh tế theo hướng "thuận thiên", biến thách thức BĐKH thành cơ hội phát triển.
Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến 2050
Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng ĐBSCL — quy hoạch vùng đầu tiên được phê duyệt trong cả nước theo Luật Quy hoạch 2017. Quy hoạch tích hợp yếu tố thích ứng BĐKH xuyên suốt, phân chia ĐBSCL thành 3 tiểu vùng sinh thái (vùng đầu nguồn trữ nước ngọt, vùng giữa chuyển tiếp, vùng ven biển) để áp dụng chiến lược thích ứng phù hợp cho từng vùng. Các giải pháp cụ thể bao gồm: chuyển đổi từ trồng lúa 3 vụ sang 2 vụ hoặc luân canh lúa – thủy sản tại vùng nhiễm mặn; phát triển hệ thống trữ nước ngọt phân tán; xây dựng các hành lang thoát lũ tự nhiên; quy hoạch không gian sống thích ứng với ngập lụt; và phát triển đô thị chống chịu BĐKH.
Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050 (NAP)
Quyết định số 1055/QD-TTg, ngày 20 tháng 7 năm 2020, đã phê duyệt Kế hoạch Thích ứng Quốc gia (NAP), trong đó Đồng bằng sông Cửu Long được xác định là khu vực ưu tiên hàng đầu. NAP nêu rõ các giải pháp thích ứng chính cho Đồng bằng sông Cửu Long: nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm thiên tai; xây dựng kịch bản ứng phó với mực nước biển dâng và xâm nhập mặn; phát triển các giống cây trồng và vật nuôi chịu mặn và chịu hạn; bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn ven biển; xây dựng cơ sở hạ tầng chống chịu biến đổi khí hậu; và tăng cường năng lực thích ứng của các cộng đồng dễ bị tổn thương.
Chiến lược quốc gia về BĐKH giai đoạn đến 2050
Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH giai đoạn đến 2050, tiếp tục khẳng định ĐBSCL là vùng trọng điểm thích ứng. Chiến lược nhấn mạnh các mục tiêu: giảm thiểu tổn thất do BĐKH gây ra đối với sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân; phát triển nền nông nghiệp thông minh với khí hậu (Climate-Smart Agriculture); xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu; và đảm bảo an ninh nguồn nước trong bối cảnh nguồn nước từ thượng nguồn Mekong ngày càng bất định.
Chương trình đầu tư hạ tầng thích ứng và các dự án cụ thể
Chính phủ đã phê duyệt nhiều dự án đầu tư hạ tầng thích ứng BĐKH quy mô lớn tại ĐBSCL trong giai đoạn 2021–2025:
Dự án chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL (MD-ICRSL) do Ngân hàng Thế giới tài trợ, với tổng vốn khoảng 387 triệu USD, tập trung xây dựng hạ tầng kiểm soát mặn, quản lý nước và phát triển sinh kế thích ứng tại các tỉnh ven biển.
Dự án nâng cấp hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé (Kiên Giang) nhằm kiểm soát mặn, giữ ngọt và chủ động điều tiết nước cho khoảng 384.000 ha đất sản xuất.
Chương trình củng cố, nâng cấp đê biển từ Cà Mau đến Kiên Giang kết hợp trồng rừng ngập mặn phòng hộ, tạo tuyến phòng thủ tự nhiên trước nước biển dâng và triều cường.
Chính sách chuyển đổi nông nghiệp thích ứng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp vùng ĐBSCL, trong đó trọng tâm là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện BĐKH. Cụ thể: giảm diện tích lúa 3 vụ tại vùng ven biển, phát triển mô hình lúa – tôm, lúa – cá, trồng cây ăn trái chịu mặn; khuyến khích áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước; phát triển nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ; và hỗ trợ nông dân tiếp cận giống cây trồng thích ứng với khí hậu do các viện nghiên cứu trong nước phát triển.
Hợp tác quốc tế về thích ứng BĐKH
Việt Nam đã tích cực hợp tác với nhiều đối tác quốc tế để triển khai các chương trình thích ứng BĐKH tại ĐBSCL. Nổi bật là hợp tác với Hà Lan thông qua Chương trình Đồng bằng Mekong (Mekong Delta Plan) — chia sẻ kinh nghiệm quản lý nước và quy hoạch vùng đất thấp; hợp tác với Ngân hàng Thế giới, UNDP, GIZ, JICA trong các dự án xây dựng năng lực thích ứng, phát triển hạ tầng xanh và hỗ trợ cộng đồng dễ bị tổn thương. Ngoài ra, cam kết Net Zero 2050 của Việt Nam tại COP26 và các cập nhật đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cũng đặt ĐBSCL vào vị trí trung tâm trong chiến lược thích ứng quốc gia.

Hình: Kế hoạch phát triển kết hợp nuôi trồng thủy sản với rau màu được Bộ trưởng Schultz của Hà Lan chính thức trình bày tại Hà Nội, Việt Nam.
Đánh giá và khuyến nghị
Hệ thống chính sách thích ứng BĐKH tại ĐBSCL hiện nay đã tương đối toàn diện, bao phủ từ tầm chiến lược quốc gia đến quy hoạch vùng và các dự án hạ tầng cụ thể. Triết lý "thuận thiên" từ Nghị quyết 120 đã tạo ra sự chuyển đổi tư duy mạnh mẽ, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, quá trình thực thi vẫn đối mặt với nhiều thách thức: nguồn lực tài chính để triển khai các dự án hạ tầng thích ứng còn thiếu hụt lớn; sự phối hợp liên ngành, liên tỉnh chưa thực sự hiệu quả; năng lực dự báo và cảnh báo sớm tại cấp địa phương còn hạn chế; người dân, đặc biệt là nông dân và ngư dân nghèo, chưa tiếp cận đầy đủ thông tin và nguồn lực để chuyển đổi sinh kế.
Do đó, cần tiếp tục đa dạng hóa nguồn tài chính thích ứng, bao gồm tài chính khí hậu quốc tế, trái phiếu xanh và huy động khu vực tư nhân; tăng cường cơ chế điều phối vùng để đảm bảo tính liên kết trong quản lý tài nguyên nước và ứng phó thiên tai; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giám sát khí hậu, quản lý nước thông minh và cảnh báo sớm; đồng thời nâng cao năng lực thích ứng cộng đồng thông qua đào tạo, tập huấn và hỗ trợ trực tiếp cho các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, nhằm đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình thích ứng với BĐKH tại ĐBSCL.
