top of page
Logo phòng thí nghiệm sống optie 1.png
background (27).png

QUẢN LÝ NƯỚC NGẦM

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước, tuy nhiên đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng về tài nguyên nước, bao gồm: xâm nhập mặn gia tăng, sụt lún đất do khai thác nước ngầm quá mức và biến đổi khí hậu. Tại các cồn, cù lao – những vùng đất nổi giữa sông như Cù lao Dung (Sóc Trăng), Cồn Phụng, Cồn Thới Sơn (Bến Tre), Cù lao Giêng (An Giang) – vấn đề tiếp cận nguồn nước ngọt càng trở nên cấp thiết hơn do đặc thù địa hình bốn bề sông nước, dễ bị ảnh hưởng bởi thủy triều và xâm nhập mặn. Người dân tại đây phụ thuộc rất lớn vào nước ngầm cho sinh hoạt và sản xuất. Do đó, việc ban hành các quy định, kế hoạch và cơ chế khuyến khích quản lý, khai thác nước ngầm bền vững là vô cùng cần thiết.

Các quy định pháp luật của Nhà nước

Luật Tài nguyên nước năm 2023 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2024, thay thế Luật Tài nguyên nước 2012) là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, trong đó có nước ngầm. Luật quy định rõ các tổ chức, cá nhân khai thác nước dưới đất phải có giấy phép khi lưu lượng khai thác vượt ngưỡng quy định; đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ bảo vệ nguồn nước, quan trắc và báo cáo định kỳ. Đặc biệt, luật mới bổ sung các quy định về hạn chế khai thác nước dưới đất tại các vùng có nguy cơ sụt lún, ô nhiễm hoặc cạn kiệt nguồn nước.

Nghị định số 54/2024/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước quy định chi tiết về điều kiện cấp phép, trình tự thủ tục, và các trường hợp phải trám lấp giếng không sử dụng. Bên cạnh đó, Nghị định số 167/2018/NĐ-CP (trước đó) về việc hạn chế khai thác nước dưới đất đã xác lập các vùng hạn chế, vùng cấm khai thác, có ý nghĩa quan trọng đối với ĐBSCL.

Tại cấp địa phương, nhiều tỉnh vùng ĐBSCL đã ban hành Danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất theo thẩm quyền. Ví dụ, tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng – những địa phương có nhiều cồn, cù lao – đã công bố các khu vực hạn chế và lộ trình giảm dần số lượng giếng khoan khai thác tự phát.

Các kế hoạch và chương trình hành động

Nghị quyết số 120/NQ-CP năm 2017 của Chính phủ về "Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu" là văn bản mang tính chiến lược, trong đó nhấn mạnh việc chuyển đổi tư duy từ khai thác sang quản lý bền vững tài nguyên nước, khuyến khích sử dụng nước mặt thay thế nước ngầm, đầu tư hệ thống cấp nước tập trung cho các vùng khó khăn bao gồm các cồn, cù lao.

Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến 2050 (được phê duyệt theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) đặt mục tiêu giảm tỷ lệ khai thác nước ngầm tại ĐBSCL, tăng cường mạng lưới quan trắc nước dưới đất và bổ sung nhân tạo nước ngầm tại các khu vực suy thoái.

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã đầu tư xây dựng nhiều công trình cấp nước tập trung tại các cồn, cù lao nhằm giảm sự phụ thuộc vào giếng khoan tự phát. Tuy nhiên, thực tế triển khai tại các cồn còn nhiều khó khăn do hạ tầng hạn chế, chi phí đầu tư cao và đặc thù địa hình chia cắt bởi sông nước.

Cơ chế khuyến khích và sáng kiến cộng đồng

Chính phủ và các địa phương đã triển khai nhiều cơ chế khuyến khích nhằm thúc đẩy sử dụng nước ngầm bền vững:

  • Hỗ trợ tài chính cho các hộ gia đình trám lấp giếng khoan không sử dụng hoặc giếng khoan không đạt tiêu chuẩn, nhằm ngăn ngừa ô nhiễm chéo giữa các tầng chứa nước. Nhiều tỉnh như Cà Mau, Bạc Liêu đã thực hiện chương trình trám lấp hàng nghìn giếng khoan.

  • Khuyến khích trữ nước mưa và sử dụng nước mặt thông qua hỗ trợ bồn chứa, lu chứa nước cho người dân tại các cồn, cù lao – nơi nguồn nước ngọt khan hiếm vào mùa khô. Đây là giải pháp thực tiễn, phù hợp với điều kiện kinh tế của cư dân.

  • Các dự án hợp tác quốc tế với tổ chức như Ngân hàng Thế giới (WB), JICA (Nhật Bản), GIZ (Đức) đã hỗ trợ ĐBSCL trong việc xây dựng hệ thống quan trắc nước ngầm, nâng cao năng lực quản lý và thí điểm các mô hình quản lý nước dựa vào cộng đồng tại các cù lao.

  • Sáng kiến cộng đồng: Tại một số cù lao như Cồn Thới Sơn, cộng đồng đã tự tổ chức các nhóm quản lý nguồn nước, thống nhất quy ước sử dụng nước giếng chung, chia sẻ nguồn nước trong mùa khô hạn. Các mô hình hợp tác xã cấp nước cộng đồng cũng được thành lập tại một số cồn ở Bến Tre, Vĩnh Long, hoạt động theo hình thức tự quản và thu phí hợp lý.

Thách thức và kiến nghị

Mặc dù khung pháp lý và chính sách đã tương đối đầy đủ, việc thực thi tại các cồn, cù lao vẫn gặp nhiều thách thức: (1) Số lượng giếng khoan tự phát rất lớn, khó kiểm soát; (2) Nhận thức của người dân về tác hại của khai thác nước ngầm quá mức còn hạn chế; (3) Hạ tầng cấp nước tập trung chưa phủ rộng; (4) Nguồn lực tài chính cho quan trắc và quản lý còn thiếu.

Để nâng cao hiệu quả, cần: tăng cường tuyên truyền tại cộng đồng cồn, cù lao; đẩy nhanh đầu tư hệ thống cấp nước tập trung kết nối từ đất liền ra các cồn; nhân rộng mô hình quản lý nước dựa vào cộng đồng; và ứng dụng công nghệ quan trắc, giám sát tự động mực nước ngầm để có cơ sở dữ liệu phục vụ ra quyết định kịp thời.

bottom of page