top of page
Logo phòng thí nghiệm sống optie 1.png
background (19).png

LŨ LỤT: THÁCH THỨC VÀ THÍCH ỨNG

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng châu thổ lớn nhất Việt Nam với diện tích khoảng 40.000 km² và dân số hơn 17 triệu người. Đây không chỉ là vựa lúa, vựa trái cây mà còn là trung tâm nuôi trồng thủy sản chiến lược của cả nước. Tuy nhiên, do địa hình trũng thấp và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ thủy văn sông Mê Kông, khu vực này từ lâu đã trở thành "điểm nóng" về ngập lụt. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tình trạng ngập lụt đang trở nên nghiêm trọng và khó lường hơn bao giờ hết.

Hinh1.png
Thực trạng lũ lụt

Hằng năm, mùa lũ tại ĐBSCL thường diễn ra từ tháng 7 đến tháng 11, khi nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về kết hợp với mưa lớn tại chỗ và triều cường từ biển Đông. Theo số liệu của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, mực nước lũ tại các trạm đo trên sông Tiền và sông Hậu thường xuyên vượt mức báo động II và III, gây ngập diện rộng tại các tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp, Long An và Kiên Giang. Diện tích ngập lụt trong các năm lũ lớn có thể lên đến hơn 1,5 triệu hecta, ảnh hưởng đến hàng triệu hộ dân.

Đáng chú ý, trong những năm gần đây, quy luật lũ tại ĐBSCL đã có nhiều biến đổi bất thường. Một số năm lũ về muộn, nước ít hơn trung bình nhiều năm do tác động của các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông; ngược lại, một số năm lũ lên nhanh, đỉnh lũ cao bất thường gây thiệt hại nặng nề. Bên cạnh lũ từ thượng nguồn, hiện tượng ngập úng do triều cường ngày càng trầm trọng tại các đô thị và vùng ven biển như Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre và Cà Mau. Tình trạng sụt lún đất do khai thác nước ngầm quá mức và nước biển dâng do biến đổi khí hậu khiến nguy cơ ngập lụt ngày càng gia tăng, ngay cả trong những đợt triều cường thông thường

Tác động đối với thiên nhiên và người dân

Đối với môi trường tự nhiên, lũ lụt gây ra tình trạng xói lở bờ sông, bờ biển nghiêm trọng. Theo thống kê, ĐBSCL mất khoảng 300 – 500 hecta đất mỗi năm do sạt lở bờ sông, đặc biệt tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Cà Mau. Nước lũ cuốn trôi lớp đất mặt phì nhiêu, đồng thời mang theo phù sa nhưng cũng kèm các chất ô nhiễm từ thượng nguồn, ảnh hưởng đến chất lượng đất canh tác. Hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển – tuyến phòng thủ tự nhiên quan trọng chống bão lũ và xâm nhập mặn – bị suy giảm diện tích đáng kể. Lũ lụt kéo dài còn làm thay đổi môi trường sống của nhiều loài thủy sinh, ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học của vùng.

Hinh2.png
Hinh3.jpg

Hình: Lũ lụt diễn ra bất thường và cực đoan tại An Giang

Hình: Lũ lụt gây ảnh hưởng hơn 53.000 ha sản xuất nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long

Đối với người dân, lũ lụt gây ra những thiệt hại to lớn về người và tài sản. Trong các đợt lũ lớn, hàng trăm ngôi nhà bị ngập sâu hoặc cuốn trôi, hàng nghìn hecta lúa và hoa màu bị mất trắng, gia súc gia cầm chết hàng loạt. Đặc biệt, tình trạng đuối nước trong mùa lũ là nỗi ám ảnh thường trực của người dân vùng lũ, nhất là đối với trẻ em. Theo thống kê, mỗi năm có hàng chục trẻ em tử vong do đuối nước trong mùa lũ tại ĐBSCL. Nước lũ ngập kéo dài còn gây bùng phát các dịch bệnh như sốt xuất huyết, tiêu chảy, bệnh ngoài da và các bệnh lây truyền qua đường nước. Giao thông bị chia cắt, trường học phải đóng cửa, hoạt động sản xuất kinh doanh đình trệ, khiến đời sống của người dân vốn đã khó khăn càng thêm chật vật. Nhiều hộ dân nghèo rơi vào cảnh tái nghèo sau mỗi mùa lũ lớn do mất hết tài sản và mùa màng

Các biện pháp hiện tại của chính quyền và người dân

Về phía chính quyền, hệ thống phòng chống lũ lụt tại ĐBSCL đã được đầu tư và hoàn thiện qua nhiều năm. Chính phủ đã xây dựng hệ thống đê bao, bờ bao với tổng chiều dài hàng nghìn km để bảo vệ vùng sản xuất lúa và khu dân cư. Các cụm tuyến dân cư vượt lũ đã được xây dựng tại nhiều địa phương, tạo nơi ở an toàn cho hàng trăm nghìn hộ dân vùng ngập sâu. Hệ thống cảnh báo sớm và dự báo lũ được nâng cấp, giúp chính quyền và người dân chủ động ứng phó. Các tỉnh đã xây dựng phương án phòng chống thiên tai hằng năm, tổ chức diễn tập cứu hộ cứu nạn và bố trí lực lượng ứng trực trong mùa lũ. Đặc biệt, Nghị quyết 120/NQ-CP năm 2017 về phát triển bền vững ĐBSCL đã đặt ra định hướng chuyển từ tư duy "sống chung với lũ" sang "chủ động thích ứng", coi lũ là nguồn tài nguyên cần được quản lý hợp lý thay vì chỉ đơn thuần phòng chống. Chính quyền cũng khuyến khích chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện ngập lũ, phát triển các mô hình canh tác thích ứng như trồng lúa – nuôi cá kết hợp trong mùa nước nổi.

Về phía người dân, cộng đồng vùng ĐBSCL đã tích lũy kinh nghiệm "sống chung với lũ" qua nhiều thế hệ. Từ việc gia cố nhà cửa, dự trữ lương thực đến việc chuyển đổi sinh kế sang đánh bắt thủy sản và trồng rau nhút, bông điên điển... thách thức đã được biến thành cơ hội kinh tế. Các cộng đồng còn tự tổ chức các đội cứu hộ và điểm giữ trẻ an toàn, nâng cao khả năng tự phục hồi (resilience) của khu vực.

Kết luận

Lũ lụt tại ĐBSCL là một hiện tượng tự nhiên mang tính chu kỳ với hai mặt lợi – hại đan xen. Để bảo vệ sự phát triển bền vững của vùng đất này trước những biến động phức tạp của thượng nguồn và nước biển dâng, cần tiếp tục đẩy mạnh đầu tư hạ tầng xanh, nâng cao năng lực dự báo và tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý tài nguyên nước lưu vực sông Mê Kông.

bottom of page